Vững nền móng, dẫn dòng phát triển
Dấu ấn Viện Thủy công trong 80 năm truyền thống ngành Thủy lợi Việt Nam (28/8/1945-28/8/2025)

Ngày 28/8/2025, trong niềm vui 80 năm truyền thống ngành Thủy lợi và 17 năm xây dựng – trưởng thành của Viện Thủy công, chúng ta có quyền tự hào nhìn lại những dấu ấn bền bỉ đã góp phần bảo đảm an toàn công trình, an ninh nguồn nước và phát triển bền vững nông nghiệp – môi trường của đất nước.
Mười bảy năm không dài so với lịch sử ngành, nhưng là quãng đường Viện kiên định một triết lý giản dị: “Đổi mới để phát triển bền vững” đủ để một tập thể trưởng thành qua từng “ca khó”: xử lý thấm nền đập, nâng cấp cống lấy nước, gia cố mái đập, đánh giá kiểm định sự cố các công trình thủy lợi… khi biến đổi khí hậu đẩy các cực trị thời tiết đến biên mới. Cứ sau mỗi lần “đứng mũi chịu sào”, thêm một bài học được chuẩn hóa thành quy trình – hướng dẫn – tiêu chuẩn; thêm một kinh nghiệm trở thành “tài sản chung” của Viện.
Khoa học đi tới thực tế – những mũi nhọn công nghệ
Tôn chỉ “khoa học để làm được việc” thể hiện rõ trong danh mục giải pháp mà Viện đã và đang chuyển giao:
+ Ổn định công trình đập, đê, kè, cống…: tường chống thấm xi măng-đất, khoan phụt áp lực, hàng cừ kín nước, màn chống thấm composite; gia cường cống bằng luồn ống thép, chèn bê tông tự lèn; gia cố mái thượng lưu bê tông/lưới thép; tràn sự cố thép/BTCT kích hoạt nhanh khi mực nước vượt ngưỡng;
+ Chuyển đổi số vận hành hồ đập: xây dựng quá trình điều tiết hồ, kết hợp bản đồ nguy cơ phục vụ cảnh báo sớm với điều kiện biến đổi khí hậu;
+ Khai thác và bảo vệ nước ngầm bền vững: điều tra – mô hình hóa tầng chứa; bơm thí nghiệm bước & dài hạn; mô hình dòng ngầm – xâm nhập mặn 2D/3D để xác định trữ lượng khai thác an toàn; thiết kế cụm giếng – hành lang khai thác, bổ sung nước dưới đất.
+ Công nghệ vật liệu bê tông, vật liệu chống thấm trong kết cấu công trình thủy lợi, tái sử dụng vật liệu bùn nạo vét trong xây dựng công trình hạ tầng;
+ Giảm thiểu sạt lở và lũ quét: bản đồ nguy cơ theo lưu vực; Kết cấu công trình phòng chống lũ quét và sạt lở đất, thiết lập ngưỡng kích hoạt – kịch bản sơ tán khi xảy ra lũ quét và sạt lở đất.
Những “ca khó” rèn nên thương hiệu
Danh tiếng chuyên môn của Viện không được tạo bởi khẩu hiệu, mà bằng những lần “đứng mũi chịu sào”: Mỹ Trung những năm bão lớn; điểm 740 Mông Dương trong trận mưa lịch sử với phương án tràn sự cố kết cấu thép thi công trong đêm, sau đó thay thế bằng tràn BTCT; cống Tắc Giang với giải pháp jet grouting tạo tuyến chống thấm – gia cố nền; Sông Lũy, ĐăK Nting, Khe Cát… với tư duy, phân tích đánh giá đề xuất giải pháp công trình sau sự cố. Mỗi ca việc đều có mồ hôi, nguy cơ và trách nhiệm – và cũng là điểm tựa để quy trình, chuẩn mực nghề nghiệp được nâng lên một bậc.
Từ phòng thí nghiệm tới chuẩn mực quốc gia – và chuyển đổi số
Viện bền bỉ chuẩn hoá tri thức: biên soạn – hiệu đính hướng dẫn kỹ thuật, tham gia xây dựng – cập nhật tiêu chuẩn liên quan đến đánh giá an toàn đập, xử lý thấm, sửa chữa cống dưới đập, gia cố mái… Ở các chương trình lớn về sửa chữa, nâng cao an toàn hồ đập, bộ quy trình Viện tham gia biên soạn trở thành tài liệu tham khảo thiết yếu cho chủ đập, tư vấn, cơ quan quản lý. Cùng với đó, Viện thúc đẩy chuyển đổi số: mô hình phục vụ điều tiết – dự báo, cơ sở dữ liệu công trình, bản đồ số tích hợp ảnh vệ tinh; bồi dưỡng AI cho đội ngũ quản lý – chuyên gia để thuật toán bước vào phân tích dữ liệu, nhận dạng nguy cơ, hỗ trợ quyết định.
Lan tỏa tới Nông nghiệp và Môi trường
Thủy lợi không chỉ là nước tưới cho cánh đồng, mà còn là an toàn – thích ứng cho đô thị, khu công nghiệp, hạ lưu sông – biển. Dấu ấn của Viện hiện diện trong nhiều chiến lược ngành: ổn định đầu mối hồ đập đảm bảo cấp nước – chống lũ; chỉnh trị xói lở bờ sông – bờ biển; cứng hoá bùn tái sử dụng vật liệu nạo vét; bảo vệ nước ngầm; giảm thiểu sạt lở – lũ quét cho miền núi. Mẫu số chung là hiệu quả đầu tư đi đôi với an toàn – môi trường, lấy hiệu quả khai thác công trình làm trung tâm.
Hành trình phía trước
Biến đổi khí hậu khiến mưa cực đoan và hạn – mặn tăng nhanh; sụt lún đe dọa vùng trũng; xâm nhập mặn – suy thoái lưu vực làm thay đổi cấu trúc nguồn nước; yêu cầu tiêu chuẩn hoá – số hoá ngày càng cao. Viện Thủy công xác định 6 hướng đi chiến lược: (1) Nghiên cứu trọng điểm về thấm – xói – ổn định công trình thủy lợi trong bối cảnh cực đoan mới; (2) Khai thác nước ngầm và phát triển bền vững nguồn nước; (3) Giảm thiểu sạt lở – lũ quét theo đơn vị lưu vực; (4) Công nghệ cho phát triển sử dụng vật liệu tự nhiên và tái tạo; (5) Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu chuyển giao; (6) Phát triển nguồn nhân lực kế cận, giữ lửa học thuật, mở rộng hợp tác quốc tế.
Dấu ấn Viện Thủy công không chỉ nằm ở đập, cống hay tràn. Đó còn là đóng góp thầm lặng cho an ninh nguồn nước, an toàn đập – đê – kè, hạ tầng nông thôn, đô thị thích ứng khí hậu, nước sạch – vệ sinh, kinh tế biển – ven biển. Mỗi giải pháp kỹ thuật, tiêu chuẩn, hướng dẫn hay gói tư vấn đều gắn với hai mục tiêu: nâng cao hiệu quả đầu tư và giảm rủi ro thiên tai – môi trường cho cộng đồng.
Nhìn lại 17 năm, Viện có quyền tự hào: từ “văn phòng nhỏ” của các đơn vị mới sáp nhập, đã trở thành thương hiệu nghiên cứu – tư vấn có uy tín trong ngành và đối tác địa phương, doanh nghiệp. Nhưng tự hào cũng là trách nhiệm: tiếp tục với những bài toán mới – lũ cực đoan, hạn mặn, sụt lún, suy thoái lưu vực, chất lượng vật liệu… – với tinh thần “khoa học phục vụ”.
Người viết bài: Phó Viện trưởng Ngô Anh Quân
